A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Cơ giới hóa vào đồng ruộng giúp đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất hình thành sản xuất nông nghiệp hàng hóa

Những năm qua, việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp đã và đang được các địa phương trong huyện tập trung triển khai thực hiện. Việc thực hiện các giải pháp đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung ruộng từng bước hình thành các vùng chuyên canh theo hướng hàng hóa cho hiệu quả kinh tế cao.

Hiệu quả từ việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp

Là một trong những địa phương đi đầu trong sản xuất nông nghiệp, nhiều năm qua, xã Tân Phong đã tập trung thực hiện các giải pháp nhằm đẩy mạnh cơ giới hóa vào sản xuất, như triển khai cơ chế hỗ trợ của tỉnh, của huyện để hộ nông dân đầu tư mua các loại máy móc phù hợp với điều kiện sản nông nghiệp; phối kết hợp tổ chức các lớp tập huấn sử dụng máy móc nông nghiệp cho các hộ nông dân; tích cực thực hiện tích tụ tập trung đất đai, xây dựng cánh đồng lớn, tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất. Nhờ đó, trên địa bàn xã có nhiều cá nhân đầu tư mua máy phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện toàn xã có 2 hộ nông dân sản xuất mạ khay cấy máy (diện tích cấy máy toàn xã 130 ha/370 ha, chiếm 35% tổng diện tích gieo cấy), 19 máy đập liên hợp, 26 máy cày đa năng và hàng chục máy cày cầm tay cỡ nhỏ; tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất, thu hoạch lúa đạt 100% diện tích. Việc đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp đã mang lại hiệu quả thiết thực trong thực hiện đúng lịch thời vụ, khắc phục tình trạng thiếu nhân công vào thời điểm chính vụ. Từ đó, người dân đã thay đổi tập quán canh tác từ sản xuất truyền thống, thủ công chuyển sang hình thức sản xuất tập trung, mẫu lớn, liền vùng, liền thửa, cùng trà, cùng giống.

Vùng bãi thôn Mễ Sơn, xã Tân Phong trải dài một màu xanh đầy sức sống của các loại rau màu có giá trị kinh tế cao. Đây vốn dĩ là một cánh đồng hoang, cỏ mọc ngút tầm mắt. Người "hồi sinh" vùng đất bãi này là anh Lê Tiến Mạnh, một thanh niên bản địa. Anh Mạnh cho biết: Chất đất vùng bãi ở đây rất tốt, tuy nhiên vì manh mún, nhỏ lẻ, mỗi hộ có vài miếng ruộng, lại nằm ở khu vực xa dân cư, không thuận tiện cho sản xuất nên những năm gần đây hầu hết các hộ bỏ hoang. Để dồn đổi thành vùng sản xuất rộng gần 15ha như hiện nay, anh phải kiên trì vận động, hợp đồng thuê lại ruộng trên 500 hộ dân trong vòng 20 năm với giá trị tương đương 1 tạ thóc/sào/năm. Từ tháng 1/2016, anh đầu tư khoảng 500 triệu đồng dọn cỏ, tổng vệ sinh, đánh bắt chuột, nạo vét mương máng, đào đắp giao thông,… Sau chỉnh trang vùng sản xuất, anh Mạnh lựa chọn sản xuất dưa lê, dưa kim cô nương, bí đao và sản xuất hạt giống cây rau màu. Áp dụng đồng bộ cơ giới hóa vào sản xuất như máy làm đất đa năng, dàn tưới phun mưa, tưới theo công nghệ "nhỏ giọt" và các tiến bộ KHKT tiên tiến khác nên chi phí đầu tư sản xuất giảm so với hộ sản xuất nhỏ lẻ, đặc biệt tiêu thụ sản phẩm thuận lợi hơn vì có liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Mỗi năm anh luân canh từ 3 - 4 vụ rau màu, thu nhập bình quân khoảng 300 triệu đồng/1ha canh tác/năm và tạo việc làm thường xuyên cho trên 20 lao động địa phương, với mức thu nhập từ 4 triệu đồng/người/tháng.

Không chỉ riêng xã Tân Phong, hiện nay, các địa phương trên địa bàn huyện cũng tích cực áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Ông Phạm Văn Thứ, Giám đốc HTX DVNN xã Minh Khai cho biết: Nếu cấy thủ công, phải thuê từ 250.000 - 300.000 đồng/sào, nhưng khi áp dụng cấy bằng máy, mỗi sào chỉ mất 220.000 - 250.000 đồng/sào (đã bao gồm cả giống lúa). Còn gặt tay, thuê nhân công vào khoảng 300.000 đồng/sào, nhưng nếu gặt máy chỉ khoảng 130.000 - 150.000 đồng/sào mà còn giảm được công tuốt lúa. Chỉ tính riêng cấy, gặt, làm đất, khi áp dụng cơ giới hóa chi phí sẽ giảm 200.000 đồng/sào so với làm thủ công. Dự báo thời gian tới lao động trực tiếp làm ruộng sẽ còn rất ít, hơn nữa thu nhập từ sản xuất lúa sau khi trừ chi phí rất thấp nếu không đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng và thực hiện tích tụ ruộng đất thì nông dân không thể nói đến chuyện làm giàu trên đồng đất của mình.

Áp dụng cơ giới hóa sản xuất với quy mô lớn đã và đang hình thành nên những "đại điền chủ" với tư duy sản xuất mới: tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ trong canh tác, sản xuất an toàn, hình thành chuỗi khép kín từ sản xuất và tiêu thụ; đặc biệt, nông sản làm ra đã gắn với yêu cầu của thị trường. Vũ Thư hiện đã xây dựng được 168 mô hình tích tụ ruộng đất sản xuất với quy mô từ 1 ha trở lên với tổng diện tích gần 700ha. Ngoài ra, toàn huyện có 19 cánh đồng lớn trong đó có 15 cánh đồng lớn sản xuất lúa thương phẩm có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp. Mô hình các hộ tích tụ ruộng đất, chuyển đổi cây trồng đã cho thu nhập bình quân từ 320 triệu đồng - 400 triệu đồng trên 1 ha canh tác/năm, cao hơn gấp 3 - 4 lần so với sản xuất trên diện tích manh mún, nhỏ lẻ. Diện tích ruộng đất lớn cũng sẽ thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Nếu như ở thời điểm năm 2015, toàn huyện có 163 máy gặt, 237 máy làm đất đa năng, 5 máy cấy thì đến năm 2019, toàn huyện đã có 230 máy gặt, 370 máy làm đất đa năng, 21 máy cấy (trong đó có 1 máy cấy công suất cấy 4 ha/ngày), 5 máy lên luống, 62 máy gieo hạt. Tỷ lệ cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện không ngừng được nâng lên. Tính đến vụ xuân 2020, đối với sản xuất lúa, tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa trên địa bàn huyện đã đạt 100% ở khâu làm đất, thu hoạch. Áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất đã góp phần làm tăng năng suất khoảng 10-15%, giảm tổn thất sau thu hoạch khoảng 5%, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị canh tác.

Vẫn còn những khó khăn

Việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp được các địa phương chú trọng đầu tư và từng bước hình thành các vùng chuyên canh theo hướng hàng hóa cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, áp dụng cơ giới trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều hạn chế. Thực tế hiện nay, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp của huyện mới chỉ tập trung ở khâu làm đất, thu hoạch, vận chuyển. Trong khi đó, khâu gieo cấy được xem là khâu quan trọng, quyết định cho việc đảm bảo thời vụ, tăng năng suất, sản lượng thì tỷ lệ áp dụng chưa cao. Theo đại diện Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mặc dù đã thực hiện việc dồn điền, đổi thửa nhưng diện tích của một số hộ sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; địa hình đồng đất không đồng đều, một số xã đồng ruộng trũng, ngập nước, khó khăn cho việc sử dụng máy cấy. Bên cạnh đó, để sản xuất trên diện tích tập trung, quy mô lớn, mỗi hộ đã đầu tư hàng trăm triệu, thậm chí cả tỷ đồng để mua máy móc, thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, hiện nay chủ trương thu hút tổ chức, cá nhân tích tụ ruộng đất sản xuất thì có, nhưng lại chưa có quy định nào cho phép chuyển đổi một phần diện tích để làm kho chứa vật tư, nguyên liệu và xưởng đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa nên đã tạo tâm lý e dè, khiến các hộ nông dân chưa thực sự mạnh dạn đầu tư, tích tụ ruộng đất sản xuất lớn. Ngoài ra, các hộ áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, thói quen, phần lớn chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng máy nên trong quá trình vận hành còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng.

Những lợi ích thiết thực của cơ giới hóa đã được khẳng định qua thực tế sản xuất, song để hướng tới mục tiêu xây dựng nông nghiệp hàng hóa thì việc thực hiện cơ giới hóa cần có một hệ thống đồng bộ các giải pháp và cần khắc phục những khó khăn, vướng mắc hiện nay. Để tiếp tục đẩy mạnh việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất trên địa bàn, huyện đang tích cực thực hiện tích tụ đất đai, từ đó xây dựng diện tích sản xuất tập trung. Đồng thời, đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, tạo điều kiện thuận lợi đưa máy móc vào phục vụ sản xuất. Huyện cũng đã ban hành chính sách khuyến khích, hỗ trợ người dân đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục mở rộng số lượng cánh đồng lớn, vùng sản xuất theo tiêu chí cánh đồng lớn thực hiện sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị sản phẩm OCOP và các sản phẩm nông sản, thực phẩm của địa phương. Phấn đấu đến năm 2025, huyện có ít nhất 3-5 sản phẩm OCOP. Tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích, hỗ trợ các tập thể, cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đẩy mạnh thực hiện tích tụ ruộng đất nhằm tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa lớn. Từ đó thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp để phát triển nông nghiệp bền vững./.


Tác giả: Bài và ảnh Tiên Dung
Nguồn: UBND huyện Vũ Thư
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thăm dò ý kiến
Theo bạn thông tin nội dung của website thế nào?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 58
Hôm qua : 1.640
Tháng 11 : 38.064
Năm 2020 : 642.818